Trang chủ
Tổ văn
Thương nhớ trao nhau
Lối tỏ tình mộc mạc
Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Khuyến với chùm thơ....
Lẽ sống Đặng Thùy Trâm
 

ĐỌC “CHỬ ĐỒNG TỬ”

NGHĨ VỀ QUAN NIỆM CHỮ HIẾU TRONG DÂN  GIAN

                             Lê Ngọc Chương 

Hiếu là một phạm trù đạo đức lớn của Nho giáo Trung Quốc. Cùng với Trung, Hiếu xây dựng các quy tắc ứng xử của con người trong hai mối quan hệ rường cột: xã hội và gia đình. Bề tôi trung với vua, con cái hiếu đễ với cha mẹ là thước đo giá trị con người, nhất là đối với các trang nam tử. Theo đó, người bất trung bất hiếu sẽ không còn chỗ đứng trong xã hội. Nho giáo phong kiến vào thời độc tôn thịnh trị, với tư cách là công cụ chính trị của nhà nước, còn đẩy hai quy tắc ứng xử trên đến mức cực đoan “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu”… và không ít trung thần hiếu tử đã trở thành nạn nhân của quan niệm cực đoan đó. Tuy nhiên, khi nhập vào Việt Nam, Nho giáo nói chung, quan niệm về chữ Hiếu nói riêng đã được Việt hoá về nhiều mặt và nảy sinh những cách hiểu cũng như hành vi mới mang tính thực tiễn theo quan niệm người Việt.

Chữ Hiếu trong quan niệm của Nho giáo chính thống ở nước ta tuy vẫn chuyển tải đầy đủ ý nghĩa ban đầu nhưng nội hàm đã được mở rộng nhằm phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh và con người cụ thể. Lời dặn của Nguyễn Phi Khanh đối với Nguyễn Trãi “ Con về lập chí, rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu” bổ sung thêm ý nghĩa đó. Khi quan hệ cá nhân gắn liền quan hệ cộng đồng dân tộc thì chữ hiếu trong quan hệ gia đình cũng hình thành những nét nghĩ mới. Việc làm của Nguyễn Trãi trong suốt  quãng đời còn lại là quá trình làm tròn chữ hiếu với cha nhưng cũng là thực hiện đạo hiếu với dân với nước. Nhưng trước hết, bản thân việc nghe theo lời dạy của cha, quay về mưu cầu việc lớn phò minh chúa Lê Lợi đánh Minh của Nguyễn Trãi cũng là hành động cụ thể đúng theo tinh thần chữ hiếu trong quan niệm chính thống của Nho giáo Việt Nam. Nguyễn Trãi ăn lộc nhà Trần, thành danh và ra làm quan cho nhà Hồ và là bậc khai quốc công thần của nhà Lê nhưng không ai cho Nguyễn Trãi bất trung! Trường hợp Nguyễn Trãi, hiếu với dân, hiếu với nước rõ ràng là một bước tiến dài trong quan niệm về chữ Hiếu của người Việt.

Ở một phương diện khác, chữ Hiếu khi đi vào dân gian lại được hiểu và vận dụng hết sức linh hoạt. Trong quan niệm dân gian, chữ Hiếu không phải là mệnh lệnh áp đặt một chiều từ trên xuống, cũng không thực hiện một cách khiên cưỡng và cứng nhắc theo kiểu “ giết con nuôi mẹ” như Quảng Cự trong sách “Nhị thập tứ hiếu[1] của người Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, người Việt đã căn cứ vào “cái lý” của sự việc, tình huống cụ thể mà giải quyết mối quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ một cách thoả đáng để vừa nêu cao tinh thần hiếu đễ của con cái, vừa không gây tổn hại đến các mối quan hệ khác. Câu chuyện “ Chử Đồng Tử” là một ví dụ thấu tình đạt lý cho điều này.

“ Chử Đồng Tử ” là câu chuyện mà qua đó,tác giả dân gian “ phản ánh ước mơ tự do hôn nhân và đề cao đức tính hiếu thảo” qua hai nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Ở đây, chúng tôi xin bàn về khía cạnh thứ hai: “đức tính hiếu thảo” của nhân vật.

Chử Đồng Tử được coi là người con rất có hiếu đối với cha. Điều này thể hiện qua chi tiết chàng đã “đóng khố cho cha rồi  mới chôn” dù cả hai cha con chỉ có chung một chiếc khố dùng thay nhau và trước đó, cha chàng đã dặn chàng “cứ giữ lấy mà dùng”. Nghĩa tử là nghĩa tận, Chử Đồng Tử đã không nỡ để cha mình trần về nơi chin suối. Việc Chử Đồng Tử không nghe lời cha, nếu xét theo quan niệm chữ Hiếu của Nho giáo Trung Quốc không những không được coi là hiếu thuận mà ngược lại, còn bị cho là bất hiếu. Thế nhưng, sự thực là không ai không xúc động trước nghĩa cử của chàng, cũng không ai chê trách mà tất cả đều đồng lòng ngợi ca hành động hiếu nghĩa đó. Trong trường hợp này, người Việt đã có quan niệm rất thực tế về chữ Hiếu. Trong “Nhị tập tứ hiếu”, Quách Cự cũng được đề cao về phẩm chất hiếu thảo nhưng xét cho cùng, để đắc hiếu với mẹ, ông lại trở thành kẻ bất nhân với con. Còn trong câu chuyện của người Việt, Chử Đồng Tử dù không nghe lời cha (là biểu hiện của sự bất hiếu) nhưng việc chàng làm lại toả sáng một tấm lòng rất mực hiếu thảo. Hai con người thuộc về hai xứ sở khác nhau với hai hành động khác nhau đã cho thấy sự khác biệt trong quan niệm về cùng một vấn đề. Cả hai đều có chung tấm lòng hiếu thảo nhưng cách biểu hiện và hành động của Quách Cự khiến cho người ta sợ, còn Chử Đồng Tử lại khiến người đời cảm phục.

Cũng trong câu chuyện trên của người Trung Quốc, khi đào đất chôn con, Quách Cự bắt được một hũ vàng, đây được coi là phần thưởng trời ban cho người con hiếu thảo. Tương tự, trong câu chuyện của người Việt, Chử Đồng Tử cũng được dân gian ban tặng “phần thưởng” là một cô công chúa xinh đẹp để làm vợ. Quả thật đây là phần thưởng mà không bạc vàng nào sánh được (Vả lại, cũng không thể dùng của cải vật chất làm thước đo lòng hiếu thảo con người ). Chi tiết này thể hiện cách nghĩ hết sức thâm thuý và có thể coi là một sự bổ sung cho quan niệm về chữ Hiếu trong dân gian của người Việt nói trên. Công chúa Tiên Dung, nếu cũng xét theo tiêu chí và quan niệm về chữ Hiếu của Nho giáo chính thống thì cũng lại là một người con “bất hiếu” bởi cái sự không nghe lời cha, “không chịu lấy chồng” và tự ý định đoạt hôn nhân cho mình – hành động “mặc áo qua đầu” vốn bị coi là cấm kỵ trong quan niệm phong kiến về mối quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ. Và Chử Đồng Tử, một chàng trai hiếu thảo, trớ trêu thay, lại được dân gian dành cho phần thưởng là một cô con gái “bất hiếu”! Thoạt nhìn, tưởng như tác giả dân gian có ý “chơi khăm” nhân vật của mình nhưng kỳ thực thì không phải vậy. Trong cảm thức người Việt, Tiên Dung chưa bao giờ bị coi là bất hiếu bởi việc nàng làm không những không phương hại đến ai mà còn hướng đến lẽ đời cao đẹp với hôn nhân tự do và sự phân định đẳng cấp bị xoá nhoà. Cái sâu sắc của các tác giả dân gian ở đây là tạo ra cái nghịch lý bên ngoài để làm sáng lên cái có lý bên trong. Chử Đồng Tử xứng đáng được ban thưởng và Tiên Dung cũng xứng đáng với tư cách “phần thưởng” của mình.

Truyện “Chử Đồng Tử” kết thúc với việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay về trời cũng là dụng ý của tác giả dân gian nhằm tránh sự xung đột trong quan hệ vua-tôi, cha-con giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung với vua cha khi mà nhà vua cử binh tiến đánh để Trung và Hiếu được vẹn toàn. Truyện cổ tích, nhất là cổ tích thần kỳ phản ánh thời kỳ “ngây thơ” trong lịch sử xã hội loài người nhưng những gì được thể hiện trong “Chử Đồng Tử ” lại cho thấy quan niệm và cách xử lý tình huống không hề ngây thơ của người Việt.

Quan niệm về chữ Hiếu trong dân gian qua câu chuyện về chàng trai họ Chử có màu sắc phong phú và giá trị thực tiễn phù hợp với đời sống tâm lý xã hội cộng đồng dù vẫn giữ cái hạt nhân cốt lõi của quan niệm về chữ Hiếu khởi nguyên từ Trung Quốc. Việc tiếp thu và vận dụng văn hoá, tư tưởng nước ngoài bằng trí tuệ, tâm hồn và đạo lý dân tộc của người Việt qua truyện “Chử Đồng Tử ” nói riêng, trong quá trình xây dựng và phát triển bản sắc văn hoá tư tưởng dân tộc nói chung luôn là điều khiến ta phải suy ngẫm và thán phục.


 

[1] Sách “Nhị thập tứ hiếu” của người Trung Quốc kể rằng Quảng Cự nhà nghèo, nuôi mẹ già và con nhỏ, phải dành thức ăn ngon nuôi mẹ nhưng vì thương cháu, mẹ ông lại nhường cho cháu ăn. Quảng Cự giết con để dành trọn vẹn phần thức ăn cho mẹ. Khjđào hố chôn con, ông được hũ vàng. Đây được coi là phần thưởng cho lòng hiếu thảo của Quảng Cự.

 

Thiết kế bởi :Hà Duy Nghĩa -Trường THPT Phan Đình Phùng .Email :hadnghia@gmail.com